Nghị định gồm 04 chương và 24 điều. Về cơ bản, Nghị định kế thừa các quy định của Nghị định số 132/2020/NĐ-CP ngày 05/11/2020 của Chính phủ về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết, đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 20/2025/NĐ-CP.

Một số nội dung chính được sửa đổi, bổ sung như sau:
Phần A. Giải thích từ ngữ
Tại Điều 4, Nghị định 255/2026/NĐ-CP cơ bản kế thừa các quy định về giải thích từ ngữ tại Nghị định 132/2020/NĐ-CP, đồng thời bổ sung và trình bày lại một số khái niệm nhằm hoàn thiện cách diễn đạt và tạo sự thống nhất với các văn bản pháp luật có liên quan.
Một số nội dung được bổ sung, làm rõ hoặc chuẩn hóa bao gồm:
Nhìn chung, phần lớn nội dung tại Điều 4 mang tính chất chuẩn hóa và hệ thống hóa thuật ngữ; tuy nhiên, một số khái niệm mới có ý nghĩa trực tiếp đối với việc xác định và thực hiện nghĩa vụ về Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia và trao đổi thông tin thuế quốc tế.
Phần B: Các bên có quan hệ liên kết (Định nghĩa quan hệ liên kết)
Điều 5 Nghị định 255/2026 về cơ bản kế thừa các tiêu chí tại Nghị định 132/2020 và Nghị định 20/2025, đồng thời có một số điểm đáng chú ý.
Thứ nhất, về vay và bảo lãnh.
Tại điểm d khoản 2 Điều 5, Nghị định 255/2026 tiếp tục sử dụng tiêu chí “tổng dư nợ” để xác định quan hệ liên kết. Nội dung này đã được Nghị định 20/2025 sửa đổi, bổ sung và được Nghị định 255/2026 kế thừa.
Điểm mới đáng chú ý là bổ sung điểm d.3. Theo đó, khoản vay hoặc bảo lãnh không thuộc quan hệ liên kết trong trường hợp chủ nợ hoặc bên bảo lãnh là tổ chức do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ, có chức năng mua, bán, xử lý nợ và không tham gia điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư vào doanh nghiệp bên nợ/doanh nghiệp được bảo lãnh theo quy định tại điểm a và điểm c khoản 2 Điều 5.
Thứ hai, Quan hệ liên kết thông qua giao dịch “mượn và cho mượn” với cá nhân
Tại điểm l khoản 2 Điều 5, Nghị định 255/2026 quy định:
Doanh nghiệp có phát sinh các giao dịch nhượng, nhận chuyển nhượng vốn góp ít nhất 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp trong kỳ tính thuế; hoặc vay, cho vay, mượn, cho mượn ít nhất 10% vốn góp của chủ sở hữu tại thời điểm phát sinh giao dịch trong kỳ tính thuế với cá nhân điều hành, kiểm soát doanh nghiệp hoặc với cá nhân thuộc một trong các mối quan hệ quy định tại điểm g khoản 2 Điều 5.
Điểm đáng chú ý của Nghị định 255/2026 là bổ sung “mượn, cho mượn” vào tiêu chí định lượng tại điểm l.
Điểm l khoản 2 Điều 5 bổ sung “mượn, cho mượn” vào tiêu chí vay, cho vay với ngưỡng ít nhất 10% vốn góp của chủ sở hữu. Cần phân biệt đây là việc bổ sung vào tiêu chí xác định quan hệ liên kết; giao dịch mượn, cho mượn đã thuộc phạm vi các giao dịch liên kết từ Nghị định 132/2020.
Phần C: Các trường hợp người nộp thuế được miễn kê khai, miễn lập Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết
Nghị định 255/2026 tiếp tục quy định các trường hợp người nộp thuế được miễn kê khai một số nội dung và miễn lập Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết.
Một số thay đổi đáng chú ý tập trung vào điều kiện miễn lập hồ sơ dựa trên doanh thu và tỷ suất lợi nhuận.
Trường hợp 1 – Không thay đổi về nguyên tắc - Miễn kê khai một phần, phải kê khai một phần và miễn lập hồ sơ.
Người nộp thuế được miễn kê khai xác định giá giao dịch liên kết tại Mục III, Mục IV Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định và được miễn lập Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết nếu chỉ phát sinh giao dịch với các bên liên kết đáp ứng đồng thời các điều kiện:
Tuy nhiên, người nộp thuế vẫn phải kê khai căn cứ miễn trừ tại Mục I và Mục II Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định.
Trường hợp 2 – Phải kê khai, được miễn lập hồ sơ
Người nộp thuế phải kê khai xác định giá giao dịch liên kết theo Phụ lục I nhưng được miễn lập Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết trong các trường hợp:
a) Theo ngưỡng doanh thu và giá trị giao dịch
Tổng doanh thu trong kỳ tính thuế dưới 50 tỷ đồng và tổng giá trị các giao dịch liên kết dưới 30 tỷ đồng.
b) Trường hợp đã ký APA
Người nộp thuế đã ký kết Thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế (APA) và thực hiện nộp báo cáo thường niên theo quy định.
c) Trường hợp đáp ứng điều kiện về doanh thu và tỷ suất lợi nhuận
Người nộp thuế có doanh thu dưới 500 tỷ đồng, không phát sinh doanh thu, chi phí từ hoạt động khai thác, sử dụng tài sản vô hình và đạt tỷ suất lợi nhuận thuần chưa trừ chi phí lãi vay và thuế thu nhập doanh nghiệp trên doanh thu thuần tối thiểu:
Điểm mới đáng chú ý
So với quy định trước đây:
Tỷ suất lợi nhuận phải được xác định phù hợp với từng lĩnh vực hoạt động. Hoạt động dịch vụ không mặc nhiên được xem là gia công để áp dụng mức 15%.
Việc được miễn lập Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết không đồng nghĩa với việc được miễn các nghĩa vụ tuân thủ khác về thuế đối với giao dịch liên kết.
Phần D: Cơ sở dữ liệu sử dụng trong kê khai, xác định, quản lý giá giao dịch liên kết (Điều 17 nghị định 255/2026)
Điều 17 Nghị định 255/2026 hệ thống hóa thứ tự ưu tiên sử dụng cơ sở dữ liệu như sau:
Điểm đáng chú ý là Cơ sở dữ liệu quốc gia được bổ sung vào nhóm nguồn dữ liệu ưu tiên.
Đối với lựa chọn đối tượng so sánh độc lập, cần ưu tiên đối tượng so sánh nội bộ; tiếp đến là đối tượng so sánh tại Việt Nam và trong trường hợp cần thiết có thể mở rộng sang các nước trong khu vực có điều kiện ngành và trình độ phát triển kinh tế tương đồng, đồng thời phải phân tích và điều chỉnh các khác biệt trọng yếu.
Phần E: Trách nhiệm của người nộp thuế liên quan đến Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia (Điều 19)
Điều 19 Nghị định 255/2026 quy định riêng về Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia, nhằm chuẩn hóa nghĩa vụ báo cáo và trao đổi thông tin thuế quốc tế.
Công ty mẹ tối cao tại Việt Nam có doanh thu hợp nhất toàn cầu trong năm tài chính liền kề trước năm báo cáo tương đương từ 750 triệu Euro trở lên phải lập và nộp CbCR theo Phụ lục IV.
Trường hợp doanh nghiệp Việt Nam có Công ty mẹ tối cao ở nước ngoài với doanh thu hợp nhất toàn cầu từ 750 triệu Euro trở lên, nghĩa vụ CbCR được xác định theo từng trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 19, trong đó có lưu ý đến cơ chế trao đổi thông tin và trường hợp không thực hiện trao đổi thông tin một cách hệ thống.
Thời hạn nộp CbCR chậm nhất là 12 tháng kể từ ngày kết thúc năm tài chính của Công ty mẹ tối cao.
CbCR được nộp theo định dạng XML đã được mã hóa thông qua Hệ thống thông tin quản lý thuế.
Tỷ giá xác định ngưỡng 750 triệu Euro được xác định theo tỷ giá trung tâm hoặc tỷ giá tính chéo bình quân tháng 12 của năm liền kề trước năm báo cáo do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố.
Cơ quan thuế được sử dụng CbCR để quản lý rủi ro và trao đổi thông tin theo quy định, nhưng không sử dụng CbCR để điều chỉnh hoặc ấn định giá giao dịch liên kết.
Phần F: Hiệu lực thi hành (Điều 23)
Ông Võ Phan Sử
Giám Đốc Công ty Kiểm Toán AS